Mức xử phạt hành vi ngoại tình mới nhất

Ngoại tình là một trong những nguyên nhân phổ biến dẫn đến mâu thuẫn, đổ vỡ trong quan hệ hôn nhân. Không chỉ ảnh hưởng đến tình cảm và đời sống gia đình, trong một số trường hợp, hành vi ngoại tình còn có thể bị xử phạt vi phạm hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự.

Vậy ngoại tình có bị phạt không? Ngoại tình bị phạt bao nhiêu tiền? Khi nào ngoại tình bị đi tù? Người đang có vợ hoặc chồng nhưng quan hệ với người khác có phải chịu trách nhiệm pháp lý hay không?

Trong bài viết dưới đây, Luật sư Đông phân tích quy định pháp luật liên quan đến xử phạt hành vi ngoại tình và vi phạm chế độ một vợ, một chồng.

Ngoại tình có bị pháp luật xử phạt không?

Có. Tuy nhiên, không phải mọi trường hợp có quan hệ tình cảm hoặc quan hệ tình dục với người khác khi đang có vợ, có chồng đều mặc nhiên bị xử phạt.

Pháp luật tập trung xử lý những hành vi vi phạm chế độ một vợ, một chồng, đặc biệt là trường hợp người đang có vợ hoặc có chồng nhưng kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác.

Theo Điều 59 Nghị định 82/2020/NĐ-CP, hành vi vi phạm quy định về kết hôn, ly hôn và chế độ hôn nhân một vợ, một chồng có thể bị phạt tiền từ 3 triệu đồng đến 5 triệu đồng. Nghị định 82/2020/NĐ-CP hiện đã được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định 117/2024/NĐ-CP.

Do đó, cần phân biệt giữa ngoại tình theo cách hiểu thông thường và hành vi vi phạm pháp luật về chế độ một vợ, một chồng.

Ngoại tình bị phạt bao nhiêu tiền?

Theo quy định tại Điều 59 Nghị định 82/2020/NĐ-CP, một số hành vi vi phạm chế độ một vợ, một chồng bị phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng.

Các hành vi điển hình gồm:

  • Người đang có vợ hoặc đang có chồng mà kết hôn với người khác;
  • Người chưa có vợ hoặc chưa có chồng nhưng kết hôn với người mà mình biết rõ đang có chồng hoặc đang có vợ;
  • Người đang có vợ hoặc đang có chồng mà chung sống như vợ chồng với người khác;
  • Người chưa có vợ hoặc chưa có chồng mà chung sống như vợ chồng với người mà mình biết rõ đang có chồng hoặc đang có vợ.

Như vậy, nếu một người đang có quan hệ hôn nhân hợp pháp nhưng lại chung sống như vợ chồng với người khác, hành vi này có thể bị xử phạt hành chính từ 3 triệu đồng đến 5 triệu đồng.

Tuy nhiên, không nên hiểu rằng cứ có tin nhắn tình cảm, đi ăn uống, đi chơi hoặc thậm chí có quan hệ tình dục với người khác là chắc chắn bị phạt hành chính. Cơ quan có thẩm quyền phải xem xét bản chất, mức độ và chứng cứ của hành vi để xác định có thuộc trường hợp bị xử lý hay không.

Thế nào là “chung sống như vợ chồng”?

Đây là vấn đề rất quan trọng khi xác định trách nhiệm pháp lý đối với hành vi ngoại tình.

Pháp luật không xử phạt mọi hành vi có tình cảm với người khác mà tập trung vào trường hợp chung sống như vợ chồng khi thuộc các trường hợp luật định.

Có thể hiểu, chung sống như vợ chồng là việc hai người tổ chức cuộc sống chung và coi nhau như vợ chồng mặc dù một trong hai người hoặc cả hai người đang có quan hệ hôn nhân hợp pháp với người khác.

Việc xác định có chung sống như vợ chồng hay không cần căn cứ vào các tình tiết thực tế của từng vụ việc, chẳng hạn:

  • Hai người thường xuyên sống chung tại một nơi;
  • Công khai quan hệ như vợ chồng;
  • Có tổ chức cuộc sống chung;
  • Có sự gắn bó về sinh hoạt, kinh tế như một gia đình;
  • Có con chung và cùng chăm sóc, nuôi dưỡng;
  • Được những người xung quanh biết đến như vợ chồng;
  • Có các tài liệu, hình ảnh, tin nhắn hoặc chứng cứ khác thể hiện quan hệ chung sống.

Vì vậy, trong trường hợp muốn yêu cầu xử lý người có hành vi ngoại tình, chứng cứ chứng minh hành vi chung sống như vợ chồng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng.

Ngoại tình có bị đi tù không?

Có thể, nhưng không phải cứ ngoại tình là bị phạt tù.

Trách nhiệm hình sự được đặt ra khi hành vi đủ các dấu hiệu của Tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng theo Điều 182 Bộ luật Hình sự 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Theo Điều 182, người đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác; hoặc người chưa có vợ, chưa có chồng nhưng kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người mà mình biết rõ đang có chồng, có vợ, có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự nếu thuộc các trường hợp luật định.

Trường hợp có thể bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ hoặc phạt tù

Theo khoản 1 Điều 182 Bộ luật Hình sự, người vi phạm có thể bị:

  • Phạt cảnh cáo;
  • Phạt cải tạo không giam giữ đến 01 năm;
  • Hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 01 năm.

Điều kiện là hành vi thuộc một trong các trường hợp:

Thứ nhất, làm cho quan hệ hôn nhân của một hoặc hai bên dẫn đến ly hôn.

Điều này được hiểu là hành vi kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng trái với chế độ một vợ, một chồng phải dẫn đến việc quan hệ hôn nhân của một hoặc hai bên thực sự chấm dứt bằng bản án hoặc quyết định ly hôn có hiệu lực pháp luật.

Tòa án nhân dân tối cao đã có hướng dẫn về cách hiểu tình tiết này tại Công văn 163/TANDTC-PC ngày 10/9/2024. Theo đó, quan hệ vợ chồng chỉ được coi là chấm dứt khi có bản án hoặc quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật.

Thứ hai, người vi phạm đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này mà còn vi phạm.

Đây là trường hợp người vi phạm trước đó đã bị xử phạt hành chính về hành vi vi phạm chế độ một vợ, một chồng nhưng sau đó vẫn tiếp tục thực hiện hành vi vi phạm và đủ điều kiện truy cứu trách nhiệm hình sự.

Khi nào ngoại tình có thể bị phạt tù từ 6 tháng đến 3 năm?

Khoản 2 Điều 182 Bộ luật Hình sự quy định khung hình phạt từ 06 tháng đến 03 năm tù đối với trường hợp phạm tội thuộc một trong các tình tiết nghiêm trọng hơn.

Cụ thể:

  • Làm cho vợ, chồng hoặc con của một trong hai bên tự sát;
  • Đã có quyết định của Tòa án hủy việc kết hôn hoặc buộc phải chấm dứt việc chung sống như vợ chồng trái với chế độ một vợ, một chồng nhưng vẫn duy trì quan hệ đó.

Như vậy, mức hình phạt cao nhất đối với Tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng theo Điều 182 Bộ luật Hình sự hiện nay là 03 năm tù.

Người độc thân quan hệ với người đã có gia đình có bị phạt không?

Có thể.

Nhiều người cho rằng chỉ người đang có vợ hoặc chồng mới phải chịu trách nhiệm, nhưng quy định pháp luật còn áp dụng đối với người chưa có vợ, chưa có chồng nhưng biết rõ người mình kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng đang có chồng hoặc có vợ.

Do đó, người thứ ba không phải lúc nào cũng đứng ngoài trách nhiệm pháp lý.

Nếu người này biết rõ đối phương đang có quan hệ hôn nhân nhưng vẫn kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với họ thì tùy tính chất, mức độ và hậu quả, người này có thể bị xử phạt hành chính hoặc thậm chí bị truy cứu trách nhiệm hình sự nếu đủ điều kiện theo Điều 182 Bộ luật Hình sự.

Điểm cần chứng minh trong trường hợp này là người thứ ba có biết rõ đối phương đang có vợ hoặc có chồng hay không.

Có phải cứ có quan hệ tình cảm với người khác là bị xử phạt?

Không.

Đây là vấn đề nhiều người hiểu chưa chính xác.

Pháp luật không quy định rằng mọi hành vi nhắn tin tình cảm, đi chơi riêng, hẹn hò hoặc có quan hệ tình cảm với người khác trong thời kỳ hôn nhân đều mặc nhiên bị phạt tiền.

Để xử lý về hành vi vi phạm chế độ một vợ, một chồng, cơ quan có thẩm quyền phải xác định được hành vi thuộc trường hợp pháp luật quy định, chẳng hạn kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác.

Đối với trách nhiệm hình sự, yêu cầu còn chặt chẽ hơn vì phải chứng minh đầy đủ các dấu hiệu cấu thành tội phạm và các điều kiện được quy định tại Điều 182 Bộ luật Hình sự.

Vì vậy, nếu chỉ có bằng chứng về việc nhắn tin tình cảm hoặc nghi ngờ ngoại tình thì chưa thể khẳng định người đó chắc chắn phạm tội.

Làm thế nào để chứng minh hành vi ngoại tình?

Trong thực tế giải quyết các vụ việc hôn nhân gia đình, chứng cứ có vai trò rất quan trọng.

Một số tài liệu có thể được sử dụng để chứng minh hành vi vi phạm gồm:

  • Hình ảnh, video thể hiện việc chung sống;
  • Tin nhắn, email hoặc dữ liệu điện tử;
  • Thông tin thể hiện hai người thường xuyên sinh hoạt cùng nhau;
  • Giấy tờ, tài liệu liên quan đến nơi ở;
  • Lời khai của người làm chứng;
  • Thông tin về con chung;
  • Tài liệu thể hiện việc công khai quan hệ như vợ chồng;
  • Các tài liệu khác được thu thập hợp pháp.

Tuy nhiên, người thu thập chứng cứ cần đặc biệt lưu ý không được tự ý xâm nhập tài khoản, chiếm đoạt dữ liệu, cài phần mềm theo dõi hoặc sử dụng các biện pháp trái pháp luật để thu thập thông tin.

Chứng cứ có được bằng phương thức trái pháp luật có thể không được cơ quan có thẩm quyền chấp nhận và trong một số trường hợp còn có thể làm phát sinh trách nhiệm pháp lý cho chính người thu thập.

Ngoại tình có ảnh hưởng đến việc ly hôn không?

Có.

Hành vi ngoại tình có thể trở thành một trong những căn cứ được xem xét khi giải quyết ly hôn, đặc biệt trong trường hợp hành vi này thể hiện tình trạng hôn nhân đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được.

Khi giải quyết ly hôn đơn phương, Tòa án sẽ xem xét toàn diện tình trạng hôn nhân và các hành vi của vợ, chồng để xác định có đủ căn cứ cho ly hôn hay không.

Do đó, nếu một bên ngoại tình và có chứng cứ chứng minh hành vi này, người còn lại có thể cung cấp chứng cứ cho Tòa án trong quá trình giải quyết vụ án ly hôn.

Ngoại tình có làm mất quyền nuôi con không?

Không phải cứ ngoại tình là đương nhiên mất quyền nuôi con.

Khi giải quyết quyền trực tiếp nuôi con sau ly hôn, Tòa án phải căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con.

Hành vi ngoại tình có thể được xem xét trong tổng thể các yếu tố liên quan đến điều kiện chăm sóc, nuôi dưỡng, môi trường sống, nhân thân, thời gian dành cho con và khả năng bảo đảm quyền lợi của con.

Nếu hành vi ngoại tình đi kèm với việc bỏ bê con, không chăm sóc con, có lối sống ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự phát triển của con hoặc có những hành vi khác gây bất lợi cho con thì đây có thể là yếu tố bất lợi khi Tòa án xem xét người trực tiếp nuôi con.

Tuy nhiên, không có quy định rằng ngoại tình đồng nghĩa với việc mất quyền nuôi con.

Ngoại tình có ảnh hưởng đến việc chia tài sản khi ly hôn không?

Hành vi ngoại tình không đồng nghĩa với việc người có lỗi sẽ bị mất toàn bộ tài sản chung.

Khi giải quyết tài sản khi ly hôn, Tòa án căn cứ vào các nguyên tắc của Luật Hôn nhân và gia đình, đồng thời xem xét nhiều yếu tố như công sức đóng góp của vợ chồng, hoàn cảnh của mỗi bên, lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp, cũng như lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng.

Do đó, trong một số trường hợp, lỗi của một bên trong việc vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng có thể được Tòa án xem xét khi phân chia tài sản, nhưng không có nghĩa người ngoại tình mặc nhiên bị mất một nửa hoặc toàn bộ tài sản.

Người bị ngoại tình có thể làm gì?

Nếu phát hiện vợ hoặc chồng có dấu hiệu ngoại tình, trước tiên cần xác định mục tiêu của mình là:

  • Muốn yêu cầu chấm dứt hành vi vi phạm;
  • Muốn yêu cầu xử phạt hành chính;
  • Muốn đề nghị cơ quan có thẩm quyền xem xét trách nhiệm hình sự;
  • Muốn sử dụng chứng cứ để giải quyết vụ án ly hôn;
  • Muốn bảo vệ quyền lợi về con chung;
  • Muốn giải quyết tranh chấp về tài sản.

Mỗi mục tiêu sẽ có yêu cầu về chứng cứ và cách xử lý khác nhau.

Đặc biệt, nếu muốn yêu cầu xử lý về hành vi vi phạm chế độ một vợ, một chồng, không nên chỉ dựa vào những thông tin chưa được kiểm chứng mà cần thu thập, bảo quản chứng cứ một cách hợp pháp.

Câu hỏi thường gặp về xử phạt hành vi ngoại tình

Ngoại tình có bị phạt 5 triệu đồng không?

Có thể. Người thực hiện hành vi thuộc các trường hợp vi phạm chế độ một vợ, một chồng theo Điều 59 Nghị định 82/2020/NĐ-CP có thể bị phạt tiền từ 3 triệu đồng đến 5 triệu đồng.

Ngoại tình có bị đi tù không?

Có thể nhưng không phải mọi trường hợp ngoại tình đều bị phạt tù. Chỉ khi hành vi đủ các dấu hiệu của Tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng và thuộc trường hợp quy định tại Điều 182 Bộ luật Hình sự thì mới có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

Người thứ ba có bị phạt không?

Có thể. Nếu người thứ ba chưa có vợ hoặc chồng nhưng biết rõ người mình kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng đang có vợ hoặc chồng thì có thể bị xử lý theo quy định pháp luật.

Chụp được tin nhắn ngoại tình có đủ để xử lý không?

Không phải mọi trường hợp đều đủ. Tin nhắn có thể là một nguồn chứng cứ nhưng cơ quan có thẩm quyền sẽ đánh giá tính xác thực, nguồn gốc, nội dung và mối liên hệ của chứng cứ với hành vi vi phạm.

Có thể tố cáo người ngoại tình không?

Người có quyền và lợi ích liên quan có thể cung cấp thông tin, tài liệu và đề nghị cơ quan có thẩm quyền xem xét hành vi vi phạm. Việc có xử lý hay không phụ thuộc vào kết quả xác minh và các điều kiện theo quy định pháp luật.

Luật sư Đông tư vấn, hỗ trợ xử lý hành vi ngoại tình

Ngoại tình không chỉ là vấn đề tình cảm mà trong một số trường hợp còn liên quan đến xử phạt vi phạm hành chính, trách nhiệm hình sự và việc giải quyết ly hôn.

Nếu anh/chị đang gặp trường hợp vợ hoặc chồng ngoại tình, người thứ ba có hành vi can thiệp vào quan hệ hôn nhân hoặc cần sử dụng chứng cứ ngoại tình trong vụ án ly hôn, việc đánh giá đúng hành vi và lựa chọn phương án xử lý ngay từ đầu là rất quan trọng.

Lưu ý: Mức phạt và trách nhiệm pháp lý trong từng vụ việc phụ thuộc vào hành vi cụ thể, chứng cứ và hậu quả xảy ra. Không phải mọi trường hợp được gọi là “ngoại tình” trong đời sống đều đủ căn cứ để xử phạt hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự.