Điều kiện ly hôn đơn phương theo quy định mới nhất
Điều kiện ly hôn đơn phương là gì? Khi nào Tòa án chấp nhận cho một bên ly hôn dù người còn lại không đồng ý? Đây là vấn đề được nhiều người quan tâm khi hôn nhân phát sinh mâu thuẫn nhưng vợ hoặc chồng không thống nhất được việc chấm dứt quan hệ hôn nhân.
Khác với thuận tình ly hôn, ly hôn đơn phương là trường hợp chỉ một bên yêu cầu chấm dứt quan hệ vợ chồng. Vì vậy, người yêu cầu ly hôn cần chứng minh hoặc cung cấp căn cứ để Tòa án xem xét theo quy định của pháp luật.
Theo quy định hiện hành, Tòa án giải quyết cho ly hôn theo yêu cầu của một bên nếu có căn cứ về việc vợ hoặc chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Trường hợp một bên đã bị Tòa án tuyên bố mất tích thì người còn lại yêu cầu ly hôn, Tòa án cũng giải quyết cho ly hôn.
Đáng chú ý, từ ngày 01/7/2024, Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP đã hướng dẫn cụ thể hơn cách xác định tình trạng hôn nhân trầm trọng, hành vi bạo lực gia đình và vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ chồng. Nghị quyết này hiện vẫn còn hiệu lực.
Luật sư Đông xin có bài viết hướng dẫn cụ thể chi tiết về vấn đề này như sau:
Ly hôn đơn phương là gì?
Ly hôn đơn phương là trường hợp một bên vợ hoặc chồng yêu cầu Tòa án chấm dứt quan hệ hôn nhân mà bên còn lại không đồng ý ly hôn hoặc hai bên không thể thống nhất về việc chấm dứt hôn nhân.
Ví dụ:
- Vợ muốn ly hôn nhưng chồng không đồng ý;
- Chồng muốn ly hôn nhưng vợ không đồng ý;
- Một bên đồng ý ly hôn nhưng không thống nhất được về quyền nuôi con;
- Hai bên đồng ý ly hôn nhưng tranh chấp về tài sản và một bên yêu cầu Tòa án giải quyết;
- Một bên không hợp tác, không ký vào đơn thuận tình ly hôn.
Trong những trường hợp này, người có nhu cầu chấm dứt hôn nhân có thể xem xét khởi kiện yêu cầu ly hôn đơn phương.
Theo Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình, vợ hoặc chồng đều có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn. Tuy nhiên, pháp luật đặt ra một hạn chế đặc biệt đối với người chồng: chồng không có quyền yêu cầu ly hôn khi vợ đang có thai, sinh con hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi.
Ngược lại, quy định này không hạn chế quyền yêu cầu ly hôn của người vợ trong những trường hợp tương tự.
Xem thêm bài viết:- 2 Mẫu đơn ly hôn mới nhất 2026 (Thuận tình, Đơn phương)
- Ly hôn đơn phương năm 2026: Hồ sơ, thủ tục, thời gian giải quyết
- Luật sư giải quyết ly hôn tại Tòa án khu vực 4 Hà Nội
- Ngoại tình có được đơn phương ly hôn không?
- Ly hôn có yếu tố nước ngoài 2026: Hồ sơ, thủ tục và cách giải quyết nhanh
- Ly hôn khi vợ hoặc chồng mất tích: Điều kiện, hồ sơ, thủ tục
- Chồng giữ hết giấy tờ, vợ có nộp đơn ly hôn được không?
- Không biết địa chỉ của chồng ở nước ngoài có ly hôn được không?
- Vắng mặt khi ly hôn có được giải quyết không?
- Mất giấy đăng ký kết hôn có ly hôn được không?
Căn cứ pháp luật về ly hôn đơn phương
Các quy định quan trọng cần xem xét khi giải quyết ly hôn đơn phương năm 2026 gồm:
- Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
- Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 và các văn bản sửa đổi, bổ sung;
- Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao;
Trong đó, Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 là quy định trọng tâm về ly hôn theo yêu cầu của một bên.
Theo Điều 56, sau khi hòa giải tại Tòa án không thành, Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc một bên có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài và mục đích hôn nhân không đạt được.
Đối với trường hợp một bên đã bị Tòa án tuyên bố mất tích, bên còn lại yêu cầu ly hôn thì Tòa án giải quyết cho ly hôn theo khoản 2 Điều 56.
Điều kiện để Tòa án chấp nhận ly hôn đơn phương
Có thể khái quát điều kiện ly hôn đơn phương thành các nhóm chính sau:
Thứ nhất, người yêu cầu có quyền yêu cầu ly hôn.
Thông thường, vợ hoặc chồng đều có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn.
Thứ hai, quan hệ hôn nhân thuộc trường hợp có căn cứ để ly hôn.
Người yêu cầu cần chứng minh có bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ chồng làm cho hôn nhân rơi vào tình trạng trầm trọng.
Thứ ba, hòa giải tại Tòa án không thành, trừ trường hợp thuộc trường hợp pháp luật có quy định khác.
Thứ tư, trường hợp một bên đã bị Tòa án tuyên bố mất tích thì người còn lại có thể yêu cầu ly hôn và Tòa án giải quyết cho ly hôn theo khoản 2 Điều 56.
Điểm cần lưu ý là không phải cứ vợ hoặc chồng ngoại tình, cờ bạc, uống rượu hoặc sống ly thân là Tòa án đương nhiên cho ly hôn. Điều quan trọng là hành vi đó có dẫn đến tình trạng hôn nhân trầm trọng theo tiêu chí pháp luật hay không và người yêu cầu có chứng cứ chứng minh hay không.
Hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng
Đây là một trong những căn cứ quan trọng nhất để Tòa án xem xét yêu cầu ly hôn đơn phương.
Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP hướng dẫn trường hợp hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được có thể thuộc một trong các trường hợp như:
- Vợ chồng không còn tình nghĩa;
- Không thương yêu, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ nhau;
- Vợ chồng sống ly thân, bỏ mặc nhau;
- Có quan hệ ngoại tình;
- Xúc phạm, làm tổn hại danh dự, nhân phẩm, uy tín của nhau;
- Gây tổn thất về tinh thần;
- Gây thương tích, tổn hại sức khỏe;
- Không bình đẳng về quyền và nghĩa vụ giữa vợ chồng;
- Không tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo;
- Không giúp đỡ, tạo điều kiện cho nhau phát triển.
Tuy nhiên, cần hiểu đúng rằng danh sách trên không có nghĩa cứ xuất hiện một hành vi là Tòa án bắt buộc phải cho ly hôn.
Tòa án còn phải xem xét mức độ, thời gian, hậu quả của hành vi và tình trạng thực tế của quan hệ vợ chồng.
Ví dụ: vợ chồng sống ly thân
Việc vợ chồng sống ly thân trong một khoảng thời gian nhất định có thể là một trong những dấu hiệu cho thấy hôn nhân đã rạn nứt.
Tuy nhiên, pháp luật không quy định phải ly thân đủ bao nhiêu tháng hoặc bao nhiêu năm mới được ly hôn.
Vì vậy, không nên hiểu rằng cứ ly thân 1 năm, 2 năm hoặc 5 năm thì đương nhiên được Tòa án cho ly hôn.
Điều quan trọng là phải đánh giá tổng thể tình trạng hôn nhân.
Ví dụ: ngoại tình
Ngoại tình có thể là căn cứ để xem xét tình trạng hôn nhân trầm trọng.
Tuy nhiên, người yêu cầu ly hôn nên có chứng cứ chứng minh hành vi này thay vì chỉ trình bày đơn thuần rằng "chồng ngoại tình".
Chứng cứ có thể là tin nhắn, hình ảnh, thông tin trao đổi, tài liệu hoặc các chứng cứ khác được thu thập hợp pháp.
Đời sống chung không thể kéo dài
Đây là điều kiện được đặt ra cùng với tình trạng hôn nhân trầm trọng.
Có thể hiểu rằng sau khi xem xét các mâu thuẫn, hành vi vi phạm và quá trình chung sống, Tòa án có căn cứ nhận định rằng việc tiếp tục duy trì cuộc sống vợ chồng không còn khả năng thực tế để khôi phục.
Một số dấu hiệu thường gặp gồm:
- Hai bên đã ly thân;
- Không còn quan tâm, chăm sóc nhau;
- Thường xuyên xảy ra mâu thuẫn nghiêm trọng;
- Bạo lực gia đình xảy ra kéo dài;
- Một bên bỏ mặc gia đình;
- Ngoại tình kéo dài;
- Không thực hiện nghĩa vụ của vợ, chồng;
- Đã được gia đình hoặc địa phương hòa giải nhưng không có kết quả;
- Hai bên không còn khả năng xây dựng lại đời sống chung.
Không có một công thức duy nhất áp dụng cho mọi vụ án.
Có trường hợp vợ chồng ly thân thời gian dài nhưng vẫn có khả năng hàn gắn; ngược lại, có trường hợp thời gian mâu thuẫn không quá dài nhưng hành vi bạo lực hoặc vi phạm nghiêm trọng khiến hôn nhân thực tế không thể tiếp tục.
Mục đích hôn nhân không đạt được
Mục đích của hôn nhân không chỉ đơn giản là việc hai người có đăng ký kết hôn và sống cùng một nhà.
Quan hệ hôn nhân hướng tới việc xây dựng gia đình, vợ chồng thương yêu, tôn trọng, chăm sóc, giúp đỡ nhau và cùng thực hiện trách nhiệm đối với gia đình.
Khi mâu thuẫn nghiêm trọng khiến những mục tiêu cơ bản đó không còn được thực hiện, đây có thể là yếu tố để Tòa án đánh giá mục đích hôn nhân có đạt được hay không.
Ví dụ:
Một người thường xuyên đánh đập, xúc phạm người còn lại; không quan tâm đến gia đình; có quan hệ ngoại tình kéo dài; bỏ mặc vợ con và không có thiện chí khắc phục dù đã được nhắc nhở, hòa giải.
Trong trường hợp này, nếu có chứng cứ phù hợp, tổng thể các hành vi có thể là căn cứ để Tòa án đánh giá hôn nhân đã thực sự rơi vào tình trạng trầm trọng.
Trường hợp bạo lực gia đình
Bạo lực gia đình là một căn cứ được quy định trực tiếp tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.
Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP xác định "vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình" là hành vi thuộc trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 3 Luật Phòng, chống bạo lực gia đình.
Bạo lực không chỉ là đánh đập gây thương tích.
Tùy trường hợp, hành vi bạo lực gia đình có thể liên quan đến:
- Bạo lực về thể chất;
- Bạo lực tinh thần;
- Bạo lực tình dục;
- Bạo lực kinh tế;
- Hành vi cô lập, kiểm soát hoặc ngăn cản việc thực hiện quyền, nghĩa vụ hợp pháp theo quy định pháp luật.
Khi xảy ra bạo lực gia đình, người bị bạo lực nên chủ động lưu giữ chứng cứ phù hợp.
Ví dụ:
- Giấy khám bệnh;
- Hồ sơ điều trị;
- Hình ảnh thương tích;
- Video;
- Tin nhắn;
- Ghi âm, ghi hình được thu thập hợp pháp;
- Biên bản của cơ quan công an;
- Hồ sơ xử lý vi phạm hành chính;
- Tài liệu của chính quyền địa phương;
- Lời khai của người làm chứng;
- Các tài liệu khác.
Không nhất thiết phải chờ đến khi có một bản án hình sự thì mới có thể yêu cầu ly hôn.
Trường hợp một bên mất tích
Đây là trường hợp đặc biệt được Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình quy định.
Nếu một bên vợ hoặc chồng đã được Tòa án tuyên bố mất tích, người còn lại yêu cầu ly hôn thì Tòa án giải quyết cho ly hôn.
Cần phân biệt:
Không liên lạc được ≠ đã được tuyên bố mất tích.
Nếu chồng bỏ đi nhiều năm nhưng chưa có quyết định của Tòa án tuyên bố mất tích thì không nên mặc nhiên coi người đó là "người mất tích" theo nghĩa pháp lý.
Trong trường hợp này, cần xem xét quy định về tuyên bố một người mất tích và tình trạng thực tế của vụ việc trước khi xác định phương án.
Đây là lý do những trường hợp như chồng bỏ đi nhiều năm, không rõ nơi ở, không liên lạc được cần được đánh giá riêng.
Những trường hợp không được yêu cầu ly hôn
Một trong những hạn chế quan trọng được quy định tại Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình là:
Người chồng không có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn khi người vợ đang:
- Có thai;
- Sinh con;
- Nuôi con dưới 12 tháng tuổi.
Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP đã hướng dẫn cụ thể hơn về cách xác định các trường hợp này. Ví dụ, trường hợp vợ đã sinh con nhưng không nuôi con, hoặc con chết khi chưa đủ 12 tháng tuổi, hoặc vợ mang thai từ 22 tuần tuổi trở lên mà phải đình chỉ thai nghén cũng được hướng dẫn trong phạm vi quy định về hạn chế quyền yêu cầu ly hôn của người chồng.
Đáng lưu ý:
Quy định này chỉ hạn chế quyền yêu cầu ly hôn của người chồng, không hạn chế quyền yêu cầu ly hôn của người vợ.
Do đó, nếu người vợ đang mang thai hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi thì người vợ vẫn có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn nếu có căn cứ.
Chứng cứ cần chuẩn bị để chứng minh căn cứ ly hôn
Trong vụ án ly hôn đơn phương, chứng cứ có vai trò rất quan trọng.
Người yêu cầu nên chuẩn bị chứng cứ tương ứng với từng vấn đề.
Chứng cứ về bạo lực gia đình
Có thể gồm:
- Hồ sơ khám chữa bệnh;
- Giấy chứng nhận thương tích;
- Hình ảnh, video;
- Biên bản của công an;
- Quyết định xử phạt vi phạm hành chính;
- Lệnh cấm tiếp xúc hoặc các tài liệu có liên quan;
- Tin nhắn đe dọa, xúc phạm;
- Người làm chứng.
Chứng cứ về ngoại tình
Có thể gồm:
- Tin nhắn;
- Email;
- Hình ảnh;
- Video;
- Thông tin trao đổi;
- Tài liệu thể hiện việc chung sống như vợ chồng với người khác;
- Người làm chứng;
- Các tài liệu khác được thu thập hợp pháp.
Cần lưu ý không nên vì muốn có chứng cứ mà xâm nhập trái phép vào tài khoản, điện thoại hoặc dữ liệu riêng tư của người khác.
Chứng cứ về việc bỏ mặc gia đình
Có thể gồm:
- Tin nhắn;
- Người làm chứng;
- Tài liệu thể hiện thời gian bỏ đi;
- Tài liệu về việc không thực hiện nghĩa vụ chăm sóc gia đình;
- Các tài liệu, chứng cứ khác.
Chứng cứ về việc ly thân
Có thể sử dụng:
- Thông tin về nơi ở riêng của hai vợ chồng;
- Xác nhận hoặc tài liệu liên quan nếu có;
- Tin nhắn trao đổi;
- Người làm chứng;
- Các tài liệu thể hiện thời gian hai bên không còn chung sống.
Tuy nhiên, ly thân tự nó không phải là điều kiện bắt buộc để được ly hôn.
Những sai lầm khiến Tòa án bác yêu cầu ly hôn
Chỉ trình bày “không còn tình cảm”
Việc không còn tình cảm là lý do thực tế phổ biến, nhưng khi giải quyết ly hôn đơn phương, người yêu cầu cần trình bày cụ thể tình trạng hôn nhân và những căn cứ chứng minh.
Thay vì chỉ ghi:
"Tôi không còn tình cảm với chồng."
Nên làm rõ:
- Hai bên mâu thuẫn từ thời điểm nào;
- Nguyên nhân mâu thuẫn;
- Đã sống ly thân hay chưa;
- Có bạo lực, ngoại tình hoặc vi phạm nghĩa vụ hay không;
- Đã hòa giải bao nhiêu lần;
- Hiện tại quan hệ vợ chồng thực tế như thế nào.
Nghĩ rằng chồng không đồng ý thì không thể ly hôn
Đây là hiểu nhầm phổ biến.
Nếu có căn cứ theo Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, Tòa án có thể giải quyết cho ly hôn dù bên kia không đồng ý.
Không cung cấp chứng cứ
Đặc biệt đối với các trường hợp ngoại tình, bạo lực, cờ bạc, nghiện ngập hoặc bỏ mặc gia đình, nếu chỉ trình bày bằng lời nói mà không có tài liệu hỗ trợ thì việc chứng minh căn cứ ly hôn có thể khó khăn hơn.
Cung cấp chứng cứ bằng cách trái pháp luật
Không phải chứng cứ nào thu thập được cũng có nghĩa là có thể sử dụng hợp pháp.
Người yêu cầu ly hôn không nên tự ý hack tài khoản, truy cập trái phép điện thoại, tài khoản ngân hàng, email hoặc dữ liệu cá nhân của người khác để lấy chứng cứ.
Chỉ tập trung vào việc ly hôn mà bỏ qua con và tài sản
Ly hôn đơn phương thường đồng thời phát sinh các vấn đề:
- Ai trực tiếp nuôi con;
- Cấp dưỡng;
- Chia tài sản;
- Xác định tài sản riêng;
- Xác định nợ chung, nợ riêng.
Nếu không chuẩn bị từ đầu, vụ án có thể phát sinh thêm tranh chấp hoặc kéo dài.
Luật sư Đông hỗ trợ ly hôn đơn phương
Đối với những vụ việc đơn giản, đương sự có thể tự mình thực hiện thủ tục ly hôn.
Tuy nhiên, nếu vụ án có một hoặc nhiều yếu tố phức tạp như:
- Chồng/vợ không hợp tác;
- Không biết địa chỉ của bị đơn;
- Bị đơn đang ở nước ngoài;
- Có tranh chấp quyền nuôi con;
- Có tranh chấp nhà đất;
- Có nhiều tài sản chung;
- Có khoản nợ lớn;
- Có tranh chấp về tài sản riêng;
- Có hành vi bạo lực gia đình;
- Một bên mất tích;
- Có tài sản hoặc giấy tờ ở nước ngoài;
thì việc được luật sư tư vấn ngay từ đầu có thể giúp xác định phương án tố tụng phù hợp.
Luật sư Đông có thể hỗ trợ:
Tư vấn căn cứ ly hôn: Đánh giá tình trạng hôn nhân và xác định những căn cứ có thể sử dụng để yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn.
Rà soát chứng cứ: Xác định chứng cứ đang có, chứng cứ còn thiếu và phương án thu thập hợp pháp.
Soạn hồ sơ: Hỗ trợ chuẩn bị đơn khởi kiện và các tài liệu liên quan.
Xác định Tòa án có thẩm quyền: Từ ngày 01/7/2025, Tòa án nhân dân khu vực có thẩm quyền giải quyết sơ thẩm các tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự. Vì vậy, khi nộp hồ sơ năm 2026 cần xác định đúng Tòa án nhân dân khu vực có thẩm quyền thay vì sử dụng thông tin về TAND cấp huyện theo mô hình cũ.
Tham gia tố tụng: Trong phạm vi dịch vụ được khách hàng yêu cầu và pháp luật cho phép, luật sư có thể tham gia các hoạt động tố tụng để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của khách hàng.
Câu hỏi thường gặp về điều kiện ly hôn đơn phương năm 2026
Chồng không đồng ý ly hôn thì vợ có ly hôn được không?Có.
Việc chồng không đồng ý không phải là lý do đương nhiên khiến Tòa án bác yêu cầu. Nếu người vợ chứng minh được căn cứ theo Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình thì Tòa án có thể giải quyết cho ly hôn.
Không có bằng chứng chồng ngoại tình có ly hôn được không?Có thể.
Ngoại tình không phải là căn cứ duy nhất để ly hôn. Nếu không chứng minh được ngoại tình, người yêu cầu vẫn có thể chứng minh các hành vi khác cho thấy hôn nhân đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài và mục đích hôn nhân không đạt được.
Ly thân bao lâu thì được ly hôn?Pháp luật không quy định phải ly thân bao lâu mới được ly hôn.
Thời gian ly thân chỉ là một trong những yếu tố có thể được Tòa án xem xét khi đánh giá tình trạng hôn nhân. Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP cũng ghi nhận việc vợ chồng sống ly thân, bỏ mặc nhau có thể là một biểu hiện của tình trạng hôn nhân trầm trọng.
Chồng nghiện cờ bạc có phải căn cứ để ly hôn không?Có thể.
Tuy nhiên, không nên chỉ ghi "chồng nghiện cờ bạc" mà cần chứng minh hành vi và hậu quả thực tế, chẳng hạn thường xuyên sử dụng tiền của gia đình để đánh bạc, phá tán tài sản, gây nợ nần, bỏ bê vợ con hoặc có những hành vi vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ của người chồng.
Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP cũng xác định hành vi phá tán tài sản gia đình có thể là ví dụ về vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ chồng.
Chồng bạo lực gia đình có được ly hôn đơn phương không?Có.
Bạo lực gia đình là một trong những căn cứ trực tiếp được Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình quy định để Tòa án xem xét cho ly hôn.
Chồng bỏ đi nhiều năm có được ly hôn không?Có thể, nhưng cần xác định tình trạng pháp lý của người chồng.
Nếu chồng chỉ bỏ đi và không liên lạc thì chưa đương nhiên được coi là người đã mất tích theo pháp luật. Trường hợp đã có quyết định của Tòa án tuyên bố người chồng mất tích thì người vợ yêu cầu ly hôn và Tòa án giải quyết cho ly hôn theo khoản 2 Điều 56.
Vợ đang mang thai có được đơn phương ly hôn không?Có.
Quy định hạn chế quyền yêu cầu ly hôn trong thời gian vợ mang thai, sinh con hoặc nuôi con dưới 12 tháng tuổi áp dụng đối với người chồng.
Người vợ vẫn có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn trong thời gian này.
Liên hệ Luật sư Đông
Nếu anh/chị đang cần thực hiện thủ tục ly hôn , Luật sư Đông có thể hỗ trợ tư vấn về thẩm quyền Tòa án, hồ sơ, thủ tục tố tụng, nhận ủy quyền để xử lý vụ việc.Số điện thoại, Zalo, Viber, WhatsApp: 0362.735.057
(Trường hợp liên hệ Luật sư Đông không nghe máy do đang tham gia phiên tòa, anh/chị vui lòng nhắn nội dung vụ việc qua Zalo, Luật sư sẽ phản hồi trong thời gian sớm nhất.)
Facebook: Facebook Luật sư Đông
Email: Luatsudong06@gmail.com